f1 montreal grand prix

Sơ Lược Về Lịch Sử Phát Triển Của Giải Đua Xe Công Thức 1

Giải đua xe Công thức 1 (công thức ở đây chỉ một bộ quy tắc mà tất cả những tay đua và xe đua phải tuân thủ và trước đây còn được biết đến với tên gọi là Công thức A) bắt nguồn từ thời kỳ đầu của những giải đua xe máy, và phát triển từ những giải đua xe châu Âu đang nổi như cồn vào những năm giữa thế chiến thứ nhất. Kế hoạch cho một giải vô địch dành cho các tay đua Công thức 1 đã được thảo luận vào cuối những năm 1930 nhưng đã bị tạm gác lại do sự bùng nổ của chiến tranh thế giới thứ hai.

Vào năm 1946, ý tưởng đã được nhen nhóm trở lại và trong mùa giải đó, các chặng đua đầu tiên đã được tổ chức, tiếp đó, vào năm 1957, một danh hiệu vô địch dành cho các tay đua đã xuất hiện. Nhưng phải đến năm 1950, các bộ quy tắc mới được bổ sung, chuẩn hóa và vào tháng 5 năm 1950, giải vô địch thế giới lần đầu tiên được tổ chức tại Silverstone (Anh) – và chặng đua F1 đầu tiên diễn ra một tháng trước đó tại Pau (Pháp).

Alberto Ascari, Juan Manuel Fangio vaf Nina Farina sau Giải đua British Grand Prix vào năm 1952. Họ là những người thắng tám giải vô địch F1 đầu tiên.

Không thiếu những tay đua tự do – những người hoạt động độc lập, tự mua xe, và đua xe của chính họ. Tuy nhiên, công thức bị chi phối bởi các nhà sản xuất lớn trước chiến tranh như Alfa Romeo, Ferrari, Maserati và Mercedes Benz. Mặc dù Giuseppe Nino Farina là người chiến thắng giải  đua Công thức 1 đầu tiên, tay đua với thành tích xuất sắc nhất trong những năm 1950 là Juan Manuel Fangio, người đã giành chức vô địch vào những năm 1951, 1954, 1955, 1956 và 1957 với năm nhà sản xuất khác nhau.

Vạn sự khởi đầu nan. Vào năm 1952 và 1953, việc thiếu những hãng sản xuất mới đồng nghĩa với việc nhà tổ chức điều hành các cuộc đua theo quy định của Công thức 2, và tay đua Alberto Ascari đã giành chức vô địch trong cả hai năm này. Trong số các hãng sản xuất cạnh tranh chức vô địch vào năm 1950, hầu hết đã sớm “rời bỏ cuộc chơi” bởi chi phí quá cao. Chỉ có hãng Ferrari là duy trì được sự tham gia của mình từ khi chặng đua đầu tiên khởi tranh. Số người tử vong trong các chặng đua là không hề nhỏ – 13 tay đua xấu số đã tử nạn trong thập kỷ đầu tiên của Giải đua Công thức 1.

Trong quá trình hình thành và phát triển, những chiếc xe đua đã đạt được những tiến bộ công nghệ đáng kể. Các mùa giải đầu tiên chứng kiến sự tham gia của những chiếc xe trước thế chiến như Alfa’s 158. Chúng có động cơ phía trước, với lốp không săm hẹp và động cơ tăng áp 1,5 lít hoặc động cơ hút khí tự nhiên 4,5 lít. Khi quy định Công thức 1 được áp dụng trở lại vào năm 1954, động cơ bị giới hạn ở mức 2,5 lít. Mercedes Benz đã có những bước phát triển lớn cho đến khi họ rút khỏi tất cả các môn thể thao mô tô sau hậu quả của thảm họa năm 1955 tại Le Mans. Vào cuối những năm 1950, Cooper đã ra mắt một dòng xe có động cơ phía sau và đến năm 1961, tất cả các nhà sản xuất đều sử dụng động cơ phía sau. Như một sự khích lệ cho các đội đua, danh hiệu Nhà sản xuất của năm lần đầu tiên được khởi tranh vào năm 1958.

Một kỷ nguyên thống trị của các đội đến từ Anh đã được mở ra với chức vô địch của Mike Hawthorn vào năm 1958, mặc dù tay đua huyền thoại Stirling Moss được biết đến với các thành tích vang đội trong bộ môn thể thao này nhưng ông không giành được bất kỳ chức vô địch nào. Giữa các tay đua Jim Clark, Jackie Stewart, John Surtees, Jack Brabham, Graham Hill và Denny Hulme, các tay đua người Anh và Khối thịnh vượng Anh đã giành được chín chức vô địch dành cho các tay đua và các đội Anh đã giành được mười danh hiệu Nhà sản xuất của năm từ năm 1962 đến năm 1973. British Racing Green Lotus, với khung gầm bằng nhôm nguyên khối mang tính cách mạng thay vì thiết kế khung không gian truyền thống, là chiếc xe thống trị các chặng đua, và vào năm 1968, đội đua British Racing Green đã phá vỡ những ranh giới mới khi họ là những người đầu tiên thực hiện quảng cáo trên xe đua của mình.

Mùa giải 1970 xảy ra sự kiện hy hữu là chức vô địch được trao cho Jochen Rindt của đội Lotus, dù anh đã qua đời trước đó (tháng 9) trong tai nạn trên đường đua Imola (San Marino, Italy). Sự kiện này tiếp tục là hồi chuông cảnh báo cho những nguy hiểm luôn rình rập trên đường đua. Người thay thế anh là tay đua số 1 của đội Lotus, Emerson Fittipaldi, một tay đua Brazil trẻ tuổi, sau đó anh đã giành 2 chức vô địch vào năm 1972 và 1974, cạnh tranh với kỳ phùng địch thủ của mình là Jackie Stewart, tay đua vô địch vào năm 1971 và 1973.

Những chiếc xe trở nên nhanh hơn và chuyển động trơn tru hơn – Lotus một lần nữa là những người tiên phong khi họ ra mắt khí động học hiệu ứng mặt đất để cung cấp lực nén xuống (downforce) rất lớn và giúp cho tốc độ vào cua tăng lên rất nhiều – vào đầu những năm 1970, đã không còn sự xuất hiện của các tay đua tự do vì chi phí đua xe tăng vọt. Không chỉ vậy, với sự ra đời của những chiếc xe tăng áp, tốc độ và sức mạnh của chúng được cải thiện qua từng chặng đua.

An toàn vẫn là một vấn đề đáng quan ngại – Stewart đã nghỉ hưu vào đêm trước cuộc đua cuối cùng của mình sau cái chết của người bạn thân và đồng đội của ông, Francois Cevert, trong buổi tập trước giải Grand Prix năm 1973 của Hoa Kỳ. Năm 1975, Fittipaldi đã từ chối tham gia giải Grand Prix Tây Ban Nha, giải đua mà đã bị dừng lại sau 29 vòng đua khi một chiếc xe lao vào đám đông, giết chết bốn khán giả. Ferrari bắt đầu tái khẳng định bản thân với các tay đua Niki Lauda và Clay Regazzoni, trong đó Niki Lauda là người từng thống trị đường đua F1 các năm 1975, 1977 và 1984. Ông đã thắng sáu trong chín chặng đua đầu tiên vào năm 1976 trước khi một vụ tai nạn kinh hoàng tại giải Grand Prix Đức khiến ông bị bỏng nặng đến mức không một ai nghĩ ông có thể sóng sót được. Mặc dù ông ấy đã trở lại trong buồng lái một cách kỳ diệu vào sáu tuần sau đó, nhưng vào những chặng đua nước rút, tay đua James Hunt đã xuất sắc vượt qua Lauda để giành chức vô địch F1 năm 1976.

Lotus một lần nữa dẫn đầu xu thế vào năm 1978 với việc cho ra mắt công nghệ hiệu ứng mặt đất (sử dụng thanh ba bô lê (side skirts) và thiết kế gầm xe để tạo độ bám cho xe, mặc dù có đôi lúc hơi thất thường) và công nghệ này đã giúp Mario Andretti thắng sáu trong số 16 chặng đua. Nhưng một mùa giải lại một lần nữa bị hủy hoại bởi một bi kịch khi người đồng đội Ronnie Peterson của anh gặp tai nạn và tử vong tại Monza. Điều này đánh dấu sự khởi đầu cho sự kết thúc cho đội Lotus huyền thoại và là năm cuối cùng họ giành chức vô địch.

James Hunt dẫn đầu chặng đua trong một trận mưa lớn – anh về thứ ba, giành được số điểm cần thiết để giành giải vô địch thế giới năm 1976. Kỳ phùng địch thủ của của Hunt, Niki Lauda đã rút khỏi cuộc đua sau hai vòng đua vì lý do an toàn.

Đầu những năm 1970, Bernie Ecclestone đã sắp xếp lại việc quản lý các quyền thương mại của Giải đua xe Công thức 1, biến môn thể thao này thành một ngành công nghiệp toàn cầu trị giá hàng tỷ đô la. Năm 1971, ông đã mua đội Brabham và vì thế giành được một vị trí trong Hiệp hội các nhà sản xuất công thức 1 (FOCA) và năm 1978 trở thành chủ tịch của Hiệp hội này. Cho đến khi Ecclestone, chủ sở hữu của một chặng đua kiểm soát nhiều khía cạnh của môn thể thao này; ông đã thuyết phục các đội về giá trị của họ và giá trị của việc đàm phán như một đơn vị phối hợp.

Năm 1979, FISA (Liên đoàn xe thể thao quốc tế) đã được thành lập và gần như ngay lập tức đụng độ với FOCA về lợi ích và quy định. Các vấn đề trở nên xấu đi đến mức FOCA tẩy chay một chặng đua và đe dọa một cuộc ly khai (chiến thuật đã được Ecclestone sử dụng nhiều năm sau đó). Đổi lại FISA loại bỏ chế tài của nó khỏi các chặng đua. Một thỏa thuận ngừng tranh chấp được thành lập đi kèm với Thỏa thuận Concorde năm 1981.

Năm 1980, Alan Jones và đội Williams đã thống trị các đường đua F1 và vào năm 1981, Nelson Piquet đã giành danh hiệu vô địch chỉ với một điểm hơn người đứng thứ hai với chiến thắng tại U.S Grand Prix. Năm 1982 dường như tập trung vào sự rạn nứt giữa Gilles Villeneuve và Didier Pironi của Ferrari, và sau đó Villeneuve đã tử nạn tại Zolder. Hai tháng sau, khi tập luyện cho giải Grand Prix Đức, Pironi bị thương nặng đến nỗi anh không bao giờ xuất hiện trên đường đua nữa.

Kể từ đó, các động cơ turbo, lần đầu tiên xuất hiện vào năm 1977, đã thống trị các đường đua. Piquet đã giành được danh hiệu thứ hai của mình vào năm 1983 với đội đua Brabham, và chiến thắng với cách biệt nửa điểm của Lauda năm 1984 đã báo trước sự khởi đầu của một thời kỳ thống trị của đội đua McLaren, trong đó các tay đua của họ đã giành được danh hiệu vô địch trong bảy trên tám năm với Alain Prost và Ayrton Senna. Đỉnh cao của đội đến vào năm 1988 khi họ giành chiến thắng 15 trong số 16 chặng đua, nhưng các mùa giải sau đó thì động cơ turbo đã bị cấm và mối quan hệ giữa hai tay đua trở nên xấu đi nhanh chóng.

Để giới hạn sức mạnh phi thường của ô tô, những hạn chế đã được đưa vào và cuối cùng các bộ tăng áp đã bị cấm hoàn toàn vào năm 1989. Vào những năm 1980, các thiết bị hỗ trợ điện tử bắt đầu xuất hiện (một lần nữa Lotus lại dẫn đầu xu thế) và vào đầu những năm 1990, hộp số bán tự động và kiểm soát lực kéo đã ra đời. Cuộc chiến giữa công nghệ mới và mong muốn của FIA để chống lại các cáo buộc rằng các nhà nghiên cứu giờ đây quan trọng hơn các tay đua, đã nổ ra trong suốt hai thập kỷ tiếp theo.

Đội McLaren và Williams tiếp tục cai trị đường đua F1 vào những năm 1990. Tổng cộng, đội McLaren đã giành được 16 chức vô địch (bảy danh hiệu danh cho nhà sản xuất, chín danh hiệu dành cho các tay đua), trong khi Williams cũng sở hữu 16 danh hiệu của riêng họ (chín danh hiệu danh cho nhà sản xuất, bảy danh hiệu dành cho các tay đua). Nhưng cuộc cạnh tranh giữa Prost và Senna đã kết thúc vào năm 1993 khi Prost nghỉ hưu và sau đó vào năm 1994, Senna đã tử nạn tại Imola. Cái chết của anh là một bước ngoặt, trong đó là sự gia tăng đáng kể về tiêu chuẩn an toàn – và không có tay đua nào tử nạn trên một chiếc xe F1 kể từ đó. FIA đã đưa ra các biện pháp để làm chậm những chiếc xe và cải thiện độ an toàn của chúng.

Nhưng những người theo chủ nghĩa thuần túy tiếp tục tranh luận cuộc đua liên quan đến các kỹ thuật viên và các nhà thiết kế hơn là các tay đua, và giống như nhiều môn thể thao khác, chỉ có một vài đội thống trị các giải đua. McLaren, Williams, Renault (trước đây là Benetton) và Ferrari đã giành được mọi Giải vô địch thế giới từ năm 1984 đến năm 2008. Chi phí tăng vọt của Giải Công thức 1 đã mở rộng khoảng cách giữa bốn đội lớn và các đội khác nhỏ hơn. Từ năm 1990 đến 2008, 28 đội đã đến và đi, hầu hết chỉ để lại những dấu ấn nhạt nhòa.

Những nhân vật nổi trội nhất trong thời gian này là Michael Schumacher với đội Ferrari, người đã giành được năm chức vô địch liên tiếp và đội Ferrari đã dành năm danh hiệu Nhà sản xuất của năm liên tiếp từ năm 1999 đến 2004. Schumacher là một tay lái cừ khôi nhưng chính thói quen đẩy luật lệ và tinh thần thể thao đến giới hạn khiến anh trở thành một người khá khó tính, và điều đó đã gắn liền với thành công của anh cũng như gây ra nhiều vấn đề cho sự nổi tiếng của môn thể thao này. Chứng kiến số liệu giảm dần và mối quan ngại ngày càng tăng cho tương lai của môn thể thao gây khó khăn cho bất kỳ người mới tham gia mới nào.

Các quy tắc của các giải đua thường xuyên được FIA thay đổi với mục đích cải thiện chất lượng trên đường đua và cắt giảm chi phí. Trong năm 2002, việc sắp xếp các đội hình, hợp pháp kể từ khi chức vô địch bắt đầu vào năm 1950, đã bị cấm sau một số sự cố trong đó các đội công khai thao túng kết quả cuộc đua, tạo ra dư luận tiêu cực, nổi tiếng nhất là Ferrari tại Grand Prix Áo 2002. Đã có sự tác động, can thiệp đế điểm số, điểm dừng, động cơ và lốp xe.

Michael Schumacher tiến gần đến đích khi đội đua Ferrari của anh ấy ăn mừng chiến thắng ở Malaysia năm 2000 – chiến thắng của anh ấy và vị trí thứ ba của đồng đội Rubens Barrichello đã giúp nhà sản xuất Ferrari lần đầu tiên vô địch sau 21 năm. Đó cũng là danh hiệu đầu tiên trong số năm danh hiệu liên tiếp của anh chàng người Đức này.

Từ năm 2000, các đội thuộc sở hữu của các nhà sản xuất đã trở lại một cách khá thành công – ngoại trừ McLaren – khi Renault, BMW, Toyota, Honda và Ferrari thống trị giải vô địch, và thông qua Hiệp hội các nhà sản xuất Grand Prix (GPMA), họ đã đàm phán về một phần lợi nhuận lớn hơn trong tổng lợi nhuận thương mại của Giải đua Công thức 1 và việc ý kiến của họ sẽ có tiếng nói hơn trong việc điều hành môn thể thao này. Sự mở rộng toàn cầu của Giải đua Công thức 1 tiếp tục với các chặng đua mới ở các thị trường sinh lợi khác ở vùng Viễn Đông và Trung Đông. Việc Schumacher nghỉ hưu vào năm 2006 trùng hợp với môn thể thao này một lần nữa trở nên cạnh tranh hơn trên đường đua, nhưng ngày càng có nhiều giải đua bị chi phối bởi chính trị đằng sau hậu trường. Các đội đua dường như ngày càng có xu hướng tách khỏi giải đua F1, các quan chức đã gây xôn xao dư luận và nhiều người tin rằng Ecclestone và chủ tịch FIA, Max Mosley đã giữ vị trí lãnh đạo quá lâu ở môn thể thao này. Thời khắc đen tối nhất đến vào cuối năm 2009 khi Nelson Piquet Jnr được ra lệnh gặp tai nạn tại giải Grand Prix Singapore 2008 vì lợi ích của một người đồng đội của mình. Ông chủ của Flavio Briatore của Renault sau đó đã bị cấm khỏi giải đấu, nhưng đó chỉ là một trong vô vàn những bê bối của Giải đua xe hấp dẫn nhất hành tinh này.

Nguồn: ESPN

Share this post

Share on facebook
Share on twitter
Share on linkedin
Share on pinterest
Share on print
Share on email

Tin Mới Nhất